breaking news

  • Hotline: 0763.953.475 - Email: minhtc@vst.gov.vn

Trao đổi nghiệp vụ

GIẢI ĐÁP NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN Số 167 (tháng 5/2016).

Tác giả: Cục Kế toán Nhà nước

Câu hỏi: Qua các phương tiện thông tin đại chúng, được biết hiện nay, KBNN đang triển khai thí điểm dịch vụ công trên Cổng thông tin điện tử KBNN. Vậy, những thủ tục nào được thực hiện giao dịch điện tử trên Cổng thông tin điện tử KBNN?
Trả lời: Triển khai thực hiện dịch vụ công, giao nhận hồ sơ thông qua môi trường Internet là một bước quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là một bước trong quá trình cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hoá công tác kiểm soát chi NSNN của hệ thống KBNN, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành công vụ trên cơ sở đơn giản hoá về thủ tục, minh bạch về hồ sơ, chứng từ, nội dung kiểm soát, tiến tới thực hiện quy trình kiểm soát chi điện tử. Hiện nay KBNN đang thí điểm áp dụng dịch vụ công trên Cổng thông tin điện tử KBNN đối với các thủ tục sau: Thủ tục đăng ký mở và sử dụng tài khoản; thủ tục giao, nhận và trả kết quả đối với hồ sơ kiểm soát chi, kê khai yêu cầu thanh toán.
Thủ tục giao, nhận và trả kết quả đối với hồ sơ kiểm soát chi, kê khai yêu cầu thanh toán không áp dụng đối với các nghiệp vụ: Chi bằng Lệnh chi tiền; nghiệp vụ ghi thu, ghi chi do cơ quan tài chính thực hiện; nghiệp vụ hoàn trả thu ngân sách do cơ quan thu thực hiện; các nghiệp vụ điều chỉnh số liệu chi ngân sách của các đơn vị.
Đến nay, KBNN đã triển khai thí điểm dịch vụ công cho một số đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư trên địa bàn: Hà Nội, Đà Nẳng, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng giao dịch với Văn phòng các KBNN tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên địa bàn. Sau khi đánh giá kết quả triển khai thí điểm, KBNN tiến hành triển khai diện rộng để các đơn vị áp dụng.
Câu hỏi: Để thực hiện giao dịch điện tử đối với dịch vụ công trên Cổng thông tin điện tử KBNN, đơn vị giao dịch cần phải làm gì, đề nghị KBNN hướng dẫn cụ thể?
Trả lời: Hiện nay, KBNN mới đang triển khai thí điểm tại một số đơn vị sử dụng ngân sách trên một số địa bàn. Do đó, việc đăng ký sử dụng giao dịch điện tử đối với dịch vụ công trên Cổng thông tin điện tử KBNN được thực hiện theo Quyết định số 2704/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 17/12/2015 về việc thí điểm thủ tục giao dịch điện tử đối với dịch vụ công trên Cổng thông tin điện tử KBNN (Quyết định 2704). Theo đó, các đơn vị thực hiện đăng ký sử dụng dịch vụ công như sau:
Đơn vị sử dụng ngân sách cần kê khai và gửi hồ sơ (bản giấy) đăng ký sử dụng dịch vụ công trực tuyến đến KBNN nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch. Nội dung về hồ sơ đăng ký sử dụng dịch vụ công với KBNN theo quy định tại Mẫu số TK01 và Phụ lục TK01-PL ban hành kèm theo Quyết định 2704;
Trường hợp đơn vị chưa có tài khoản mở tại KBNN, đơn vị phải hoàn thành các thủ tục đăng ký mở và sử dụng tài khoản tại KBNN theo quy định tại Thông tư số 161/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 12/5/2014 hướng dẫn đăng ký và sử dụng tài khoản tại KBNN trong điều kiện áp dụng Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (Thông tư 61) trước khi thực hiện thủ tục đăng ký sử dụng dịch vụ công của KBNN;
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin đăng ký sử dụng dịch vụ công của đơn vị, KBNN nơi đơn vị đăng ký mở tài khoản giao dịch gửi thông báo cho đơn vị về việc chấp nhận hay không chấp nhận đăng ký sử dụng dịch vụ công. Trường hợp không chấp nhận nội dung đăng ký sử dụng dịch vụ công KBNN của đơn vị, KBNN nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch sẽ gửi thông báo cho đơn vị và nêu rõ lý do.
Hình thức gửi thông báo: KBNN gửi thông báo vào địa chỉ thư điện tử của đơn vị đã đăng ký với KBNN. Trong trường hợp chấp nhận nội dung đăng ký sử dụng dịch vụ công, hệ thống đồng thời gửi thư điện tử cho từng thành viên của đơn vị đã đăng ký với KBNN thông tin tài khoản sử dụng dịch vụ công KBNN. Bên cạnh đó, KBNN cũng gửi thông báo bằng đường văn bản cho đơn vị đăng ký sử dụng dịch vụ công KBNN.
Các đơn vị đăng nhập vào hệ thống trên Cổng Thông tin điện tử KBNN tại địa chỉ: http://vst.mof.gov.vn hoặc http://kbnn.botaichinh.gov.vn thực hiện các giao dịch điện tử đối với dịch vụ công phát sinh.
Tuy nhiên, khi triển khai chính thức KBNN sẽ có văn bản hướng dẫn các đơn vị đăng ký sử dụng dịch vụ công KBNN.
Câu hỏi: Trong trường hợp đơn vị chưa có chữ ký số, đơn vị có thể thực hiện các giao dịch điện tử đối với thủ tục đăng ký mở và sử dụng tài khoản qua dịch vụ công KBNN trên Cổng Thông tin điện tử KBNN không?
Trả lời: Việc sử dụng giao dịch điện tử đối vớ dịch vụ công trên Cổng thông tin điện tử KBNN áp dụng cho cả 02 trường hợp: Đơn vị có chữ ký số và đơn vị chưa có chữ ký số. Tuy nhiên, để thuận lợi nhất thì đơn vị sớm làm thủ tục đăng ký chứng thư số với Ban cơ yếu Chính phủ để tham gia dịch vụ công một cách trọn vẹn, cụ thể từng trường hợp áp dụng như sau:
Trường hợp đơn vị đã đăng ký sử dụng dịch vụ công, chữ ký số với Kho bạc Nhà nước
Đơn vị truy cập vào dịch vụ công, thực hiện kê khai thông tin đăng ký mở và sử dụng tài khoản tại KBNN, thực hiện ký số hồ sơ đăng ký mở tài khoản theo quy định và gửi KBNN.
Thời gian KBNN xử lý hồ sơ: Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày KBNN tiếp nhận hồ sơ đăng ký mở và sử dụng tài khoản KBNN đầy đủ và hợp lệ;
Trường hợp KBNN chấp nhận hồ sơ: KBNN gửi đơn vị Thông báo tài khoản của đơn vị mở tại KBNN. Đơn vị thực hiện in phục hồi 01 bản Thông báo, trình Chủ tài khoản ký và thực hiện lưu trữ vào hồ sơ mở tài khoản.
Trường hợp KBNN từ chối hồ sơ: KBNN cập nhật lý do từ chối gửi đơn vị.
Trường hợp đơn vị không có chữ ký số nhưng có đăng ký sử dụng dịch vụ công của Kho bạc Nhà nước
Đơn vị có thể truy cập vào dịch vụ công để kê khai thông tin phiếu giao nhận hồ sơ đăng ký mở và sử dụng tài khoản, in phiếu giao nhận và mang hồ sơ bằng bản giấy (thực hiện theo quy định tại Thông tư 61) đến nộp trực tiếp tại KBNN giao dịch. Hệ thống dịch vụ công sẽ hỗ trợ việc thông báo kết quả xử lý cho đơn vị./.

                                                    Tác giả: Cục kế toán Nhà nước

Câu hỏi: Tại điểm c, Khoản 6, Điều 9, Thông tư số 61/2014/TT-BTC ngày 12/5/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn đăng ký và sử dụng tài khoản tại KBNN trong điều kiện áp dụng hệ thống TABMIS (Thông tư 61) có quy định các đơn vị không phải gửi quyết định bổ nhiệm chủ tài khoản, kế toán trưởng, trong đó có Văn phòng Ủy ban nhân dân các cấp. Vậy đối với UBND xã vừa là cấp ngân sách vừa là đơn vị dự toán có được áp dụng quy định trên không?

Trả lời: Tại Điểm c, Khoản 6, Điều 9, Thông tư 61 quy định: “Các đơn vị sau không phải gửi Quyết định bổ nhiệm chức vụ của Chủ tài khoản, Kế toán trưởng: Các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; các cơ quan Nhà nước ở trung ương gồm: Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cơ quan của các đoàn thể, tổ chức: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Văn phòng Ủy ban nhân dân các cấp; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (Quốc phòng, An ninh).”

Theo quy định tại Điều 127 Luật Tổ chức chính quyền địa phương: Bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương gồm:

“1.Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

  1. Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  2. Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.
  3. Chính phủ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và việc tổ chức công tác tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã.”

Như vậy, theo quy định hiện nay không còn cơ quan Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp xã. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân xã là một cấp chính quyền nhà nước và có các điều hành các hoạt động tài chính – ngân sách của xã.

Bên cạnh đó, Thông tư 61 được ban hành ngày 12/5/2014 trước thời điểm Luật Tổ chức chính quyền địa phương được thông qua (ngày 19/6/2015), do vậy, chưa được cập nhật những thay đổi về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương cấp xã.

Như vậy, Ủy ban nhân dân xã thuộc đối tượng không phải gửi Quyết định bổ nhiệm chức vụ của Chủ tài khoản, Kế toán trưởng. Nội dung này, Bộ Tài chính đã đưa vào dự thảo Thông tư bổ sung, sửa đổi Thông tư 61 dự kiến ban hành trong tháng 3/2016.

Câu hỏi: Đơn vị Trung tâm dịch vụ việc làm thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội được cấp kinh phí chi hoạt động quản lý bảo hiểm thất nghiệp; hình thức cấp phát là qua tài khoản tiền gửi tại Kho bạc. Đơn vị nhận được công văn của cơ quan cấp trên đi công tác từ ngày 27 – 31/12/2013 và thanh toán công tác phí vào ngày 02/01/2014 và đã quyết toán khoản chi này vào niên độ 2014 nhưng cơ quan tài chính nhận định khoản chi này phải được quyết toán vào niên độ 2013 và kiến nghị xuất toán khoản chi này vì sai niên độ. Xin hỏi kiến nghị của cơ quan tài chính như vậy có đúng hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Điểm 1, Mục I, Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán NSNN hàng năm (Thông tư 108): “Trường hợp đã có khối lượng, công việc thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12, thì thời hạn chi ngân sách được thực hiện đến hết ngày 31 tháng 01 năm sau; thời hạn đơn vị sử dụng ngân sách (gồm cả chủ đầu tư) gửi hồ sơ, chứng từ chi ngân sách (kể cả thanh toán các khoản tạm ứng) theo chế độ quy định đến KBNN nơi đơn vị giao dịch chậm nhất đến hết ngày 25 tháng 01 năm sau”. Theo nội dung câu hỏi chi công tác phí nằm trong khối lượng công việc thực hiện đến hết ngày 31/12/2013, vì vậy, chứng từ thanh toán công tác phí phải được hạch toán chi ngân sách và được quyết toán vào niên độ ngân sách năm 2013.

Ngoài ra, tại Điểm 4, Mục I, Thông tư 108 quy định: “Thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách các cấp (gồm ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã) đến hết ngày 31 tháng 01 năm sau”. Như vậy, khoản chi sẽ được chi NSNN trong thời gian chỉnh lý quyết toán, thanh toán vào ngày 02/01/2014 nhưng hạch toán khoản chi trong niên độ ngân sách năm 2013, đảm bảo theo đúng quy định của Thông tư 108, do đó kiến nghị của cơ quan tài chính là đúng.

Câu hỏi: Kinh phí hoạt động của ban quản lý dự án được trích từ tài khoản tiền gửi chi phí quản lý dự án mở tại KBNN, chi phí quản lý dự án được NSNN cấp căn cứ tổng dự toán của dự án được phê duyệt. Tuy nhiên, khi quyết toán một dự án đã hoàn thành thì giá trị xây lắp dự án bị cắt giảm so với dự toán được giao ban đầu, Sở Tài chính tính lại chi phí quản lý dự án theo tổng gá trị xây lắp bị cắt giảm và Ban quản lý dự án phải nộp lại NSNN số tiền chi phí quản lý dự án đã bị cắt giảm. Theo hướng dẫn của cán bộ  kiểm soát chi KBNN thì ban quản lý dự án phải nộp lại  NSNN số tiền đã chi quản lý dự án vượt định mức. Vậy ban quản lý dự án có được phép trích chi phí quản lý dự án khác (thuộc cùng ban quản lý dự án) bù vào chi phí quản lý dự án này không?

Trả lời: Đối với trường hợp một dự án khi quyết toán bị cắt giảm giá trị xây lắp, do đó chi phí quản lý dự án  bị cắt giảm theo, dẫn đến bị xuất toán các khoản chi vượt định mức chi, hiện tại chưa có văn bản nào quy định về việc xử lý đối với các khoản chi phí quản lý bị xuất toán đối với các dự án, công trình. Tuy nhiên, theo Khoản 4, Điều 20, Chương 2, Thông tư số 05/2014/TT-BTC ngày 06/01/2014 của Bộ Tài chính về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn NSNN và vốn TPCP quy định: “Khi từng dự án được giao quản lý hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng, các khoản chi phí quản lý dự án, chi phí quản lý nghiệp vụ lập quy hoạch, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng của từng dự án được quyết toán theo đúng định mức trích (tỷ lệ %) hoặc dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong tổng mức đầu tư của dự án.” Theo đó, đơn vị không được phép sử dụng chi phí quản lý dự án khác để nộp trả chi phí quản lý dự án đã bị xuất toán./.

BÀI VIẾT ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ QUỐC GIA CHUYÊN MỤC CHÍNH SÁCH NGHIỆP VỤ

Số 166 (tháng 4/2016).

Việc thực hiện cam kết chi theo Thông tư số 113/2008/TT-BTC ngày 27/11/2008 của Bộ Tài chính (Thông tư 113) đã mang lại hiệu quả đối với cơ quan quản lý cũng như đơn vị sử dụng ngân sách. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn phát sinh một số khó khăn vướng mắc. Vì vậy, ngày 01/03/2016 vừa qua, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 40/2016/TT-BTC (Thông tư 40) nhằm khắc phục những điểm còn hạn chế.                                                    

                                                   Tác giả: ThS. Lương Thị Hồng Thủy 

Qua 2 năm triển khai thực hiện, công tác quản lý, kiểm soát cam kết chi cơ bản đã đi vào nề nếp, các đơn vị tham gia (chủ đầu tư, đơn vị dự toán, Sở Tài chính và KBNN) đã thực hiện tương đối đúng nguyên tắc, đúng quy trình kiểm soát cam kết chi của Bộ Tài chính, hướng dẫn của KBNN. Hồ sơ, thủ tục đề nghị cam kết chi về cơ bản đã được sự đồng thuận của các chủ đầu tư và đơn vị dự toán. Có thể nhận thấy nếu triển khai, thực hiện đồng bộ từ các cơ quan có liên quan thì đây là một trong những cải cách về công tác kiểm soát chi nói riêng và cải cách tài chính công nói chung theo hướng công khai, minh bạch phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế; hỗ trợ cho việc lập ngân sách trung hạn nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu tái cơ cấu kinh tế. Đối với đơn vị sử dụng ngân sách, kiểm soát cam kết chi sẽ hỗ trợ kiểm soát chi tiêu ngân sách, ngăn chặn nợ đọng, góp phần đảm bảo an ninh tài chính; từng bước đưa các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khu vực công vào quản lý tập trung nhằm mục tiêu có thể đàm phán với họ để giảm giá bán hàng hóa, dịch vụ cho khu vực công. Bên cạnh đó, quản lý kiểm soát cam kết chi cũng góp phần nâng cao chất lượng dự báo luồng tiền để quản lý ngân quỹ an toàn, hiệu quả.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, thực hiện việc quản lý, kiểm soát theo cam kết chi theo Thông tư 113 đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc, nhất là các vướng mắc về phạm vi, đối tượng thực hiện cam kết chi; vướng mắc về thời gian quy định gửi đề nghị cam kết chi và hợp đồng; vướng mắc về thông báo ý kiến chấp thuận cam kết chi; vướng mắc về hủy cam kết chi và hợp đồng; vướng mắc về biểu mẫu giấy đề nghị cam kết chi … Bên cạnh đó, việc quản lý, kiểm soát cam kết chi theo Thông tư 113 còn chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn hiện nay và chưa thuận lợi, minh bạch trong việc triển khai xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KBNN theo quy định tại Thông tư số 54/2014/TT-BTC ngày 24/4/2014 của Bộ Tài chính.

Trước tình hình đó, nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho chủ đầu tư, đơn vị sử dụng ngân sách góp phần chỉ đạo điều hành NSNN đảm bảo linh hoạt, chủ động, an toàn, hiệu quả; đồng thời, để phù hợp với việc thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KBNN và đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với hồ sơ thực hiện quản lý, kiểm soát cam kết chi. KBNN đã báo cáo Bộ Tài chính ban hành Thông tư 40 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 113 và một số biểu mẫu kèm theo Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện kế toán nhà nước áp dụng cho TAB-MIS (Thông tư 08). Theo đó, những nội dung mới sau được sửa đổi, bổ sung so với Thông tư 113.

Nâng mức giá trị thực hiện cam kết chi

Theo đó, Thông tư 40 quy định, các hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ theo chế độ quy định có giá trị hợp đồng từ 200 triệu đồng trở lên (quy định tại Thông tư 113 là 100 triệu đồng trở lên) đối với các khoản chi thường xuyên hoặc từ 1.000 triệu đồng trở lên (quy định tại Thông tư số 113/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính là 100 triệu đồng trở lên) đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản thì phải được quản lý, kiểm soát cam kết chi qua KBNN. Việc nâng mức giá trị thực hiện cam kết chi này căn cứ vào quy định tại Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu; theo đó, đối với gói thầu mua sắm thường xuyên có giá trị không quá 200 triệu đồng và đối với giá trị gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt có giá trị không quá 01 tỷ đồng nếu đủ điều kiện theo quy định thì được thực hiện chào hàng cạnh tranh, mức lớn hơn quy định nêu trên thì phải thực hiện đấu thầu.Bên cạnh đó, mức giá trị phải thực hiện cam kết chi đầu tư còn phù hợp với quy định về bảo lãnh tạm ứng hợp đồng (hợp đồng xây dựng có giá trị tạm ứng hợp đồng lớn hơn 01 tỷ đồng) theo quy định tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng.

Về bổ sung đối tượng và quy định rõ hơn, cụ thể hơn đối tượng không phải thực hiện cam kết chi

Đã phản ánh đúng bản chất của cam kết chi là dành dự toán cho các hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ có giá trị quy định, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, nhất là các khoản chi dịch vụ công ích của cơ quan, đơn vị (chi trả tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, dịch vụ Internet, mua vé máy bay, mua xăng dầu…). Đối với các khoản chi phí này các đơn vị chưa xác định được cụ thể nên thường đơn vị sử dụng ngân sách ký hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ để thỏa thuận nội dung cung cấp dịch vụ và trách nhiệm các bên tham gia ký hợp đồng, hợp đồng này không ghi giá trị và quy định thanh toán theo hóa đơn thực tế.

Đối với các khoản chi giải phóng mặt bằng, trong thực tế có nhiều khoản chi chủ đầu tư không trực tiếp thực hiện mà ký hợp đồng với Trung tâm phát triển quỹ đất hoặc Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng theo phương án đền bù  đã được phê duyệt; trường hợp này Trung tâm phát triển quỹ đất hoặc Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng không phải là đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ, mà chỉ là thay đổi chủ đầu tư để đứng ra thực hiện công tác giải phóng mặt bằng. Vì vậy, nếu thực hiện cam kết chi đối với trường hợp này sẽ không phù hợp với khái niệm “Cam kết chi đầu tư là việc các chủ đầu tư cam kết sử dụng kế hoạch vốn đầu tư được giao hàng năm (có thể một phần hoặc toàn bộ kế hoạch vốn được giao trong năm) để thanh toán cho hợp đồng đã được ký giữa chủ đầu tư với nhà cung cấp”.

Đối với các dự án ODA ngoài phần vốn ngoài nước thì Chính phủ Việt Nam còn phải bố trí thêm phần vốn trong nước theo tỷ lệ quy định của nhà tài trợ và phần vốn trong nước của các dự án ODA thì quy định phải thực hiện cam kết chi, phần vốn ngoài nước thì không phải thực hiện cam kết chi; như vậy việc kiểm soát cam kết chi đối với các dự án ODA sẽ không có ý nghĩa. Đối với các công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp, theo quy định được phép ký hợp đồng xây dựng khi chưa có kế hoạch vốn để thanh toán theo thỏa thuận thanh toán trong hợp đồng, vì vậy các hợp đồng này không thể thực hiện cam kết chi …

Về tăng thời gian gửi cam kết chi của đơn vị dự toán, chủ đầu tư, ban quản lý dự án

Để phù hợp với tình hình thực tế, có tính khả thi cao hơn trong quá trình thực hiện và phù hợp với quy định việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng, tài sản nhà nước theo quy định tại Nghị định số 192/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ về quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng, tài sản nhà nước, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho đơn vị dự toán và chủ đầu tư vì sau khi ký hợp đồng, chủ đầu tư/đơn vị sử dụng ngân sách và nhà thầu còn có thời gian nhất định để thực hiện các thủ tục như bảo lãnh hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng hoặc quy trình xử lý nội bộ tại đơn vị từ bộ phận kỹ thuật, dự toán, tham mưu ký kết hợp đồng sau đó mới đưa sang bộ phận kế toán thanh toán để lập thủ tục gửi KBNN. Vì vậy, Thông tư 40 đã quy định “Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc kể từ ngày hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa đơn vị dự toán, chủ đầu tư với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, nhà thầu có hiệu lực, đơn vị dự toán hoặc chủ đầu tư phải gửi hợp đồng kèm theo đề nghị cam kết chi đến KBNN nơi giao dịch. Trường hợp, hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ không quy định ngày có hiệu lực thì thời hạn nêu trên tính từ ngày ký hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ ”, (tăng 5 ngày làm việc so với trước đây và quy định hợp đồng không ghi ngày có hiệu lực thì tính từ ngày ký hợp đồng.

Ngoài ra, Thông tư 40 còn quy định cụ thể hơn thời gian gửi cam kết chi là 10 ngày làm việc đối với hợp đồng nhiều năm, kể từ năm thứ 2 trở đi; đối với các hợp đồng bổ sung hoặc điều chỉnh dự toán trong năm và trường hợp đơn vị  bổ sung hoặc điều chỉnh giá trị hợp đồng đã ký.

Bỏ thông báo ý kiến chấp thuận cam kết chi của Kho bạc Nhà nước.

Theo quy định tại Tiết 1.1, Điểm 1, Mục II, Thông tư 113 thì: “Trong phạm vi 2 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của đơn vị dự toán hoặc chủ đầu tư và dự toán của các đơn vị đã được phép nhập trên TABMIS, KBNN phải thông báo ý kiến chấp thuận hoặc từ chối  cam kết chi cho đơn vị được biết”. Tuy nhiên, khi đơn vị gửi hợp đồng kèm theo cam kết chi đến KBNN nơi giao dịch nếu mọi thông tin đã được đảm bảo thì KBNN chấp nhận cam kết chi của đơn vị, sau khi hạch toán KBNN giao dịch ghi số cam kết chi, mã số nhà cung cấp trên giấy đề nghị cam kết chi và trả lại 01 liên chứng từ trên Giấy đề nghị cam kết chi và không thực hiện thông báo ý kiến chấp thuận cho đơn vị biết như quy định tại Thông tư 113. Do đó, để thực hiện giảm bớt thủ tục hành chính trong việc thực hiện cam kết chi, Thông tư 40 đã quy định, trường hợp chấp nhận cam kết chi 01 liên chứng từ cam kết chi đã được chấp thuận của KBNN cho đơn vị, không phải thông báo ý kiến chấp thuận cam kết chi cho đơn vị biết như trước đây.

Thời hạn cuối cùng đơn vị dự toán hoặc chủ đầu tư gửi đề nghị cam kết chi đến KBNN cho năm ngân sách hiện hành

Để phù hợp với thời hạn đơn vị sử dụng ngân sách gửi hồ sơ, chứng từ chi ngân sách theo quy định tại Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm, Thông tư 40 đã quy định thời hạn gửi đề nghị cam kết chi năm ngân sách hiện hành chậm nhận đến KBNN trước ngày 25/01 năm sau, trước đây quy định chậm nhất trước ngày 30/12 năm hiện hành và không loại trừ cam kết chi dự toán ứng trước của các khoản kinh phí thường xuyên.

Về bổ sung trường hợp hủy cam kết chi

Trong thực tế có một số hợp đồng thuộc đối tượng phải thực hiện kiểm soát cam kết chi, sau đó hợp đồng được điều chỉnh giảm giá trị hợp đồng, nên hợp đồng này chuyển thành đối tượng không phải thực hiện cam kết chi, song trường hợp này không thuộc các trường hợp được hủy cam kết chi và hợp đồng được quy định tại Tiết 2.2.1, Điểm 2.2, Khoản 2, Mục II, Thông tư 113, dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện. Nhằm tháo gỡ vướng mắc này, Thông tư 40 đã bổ sung thêm trường hợp được phép hủy cam kết chi và hợp đồng là: Hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ chưa thực hiện thanh toán nhưng có thay đổi giá trị hợp đồng từ mức phải thực hiện cam kết chi theo quy định xuống mức không phải thực hiện cam kết chi.

Sửa đổi, bổ sung xử lý các khoản cam kết chi từ dự toán ứng trước

Tại Điểm 3.2, Khoản 3, Mục II, Thông tư 113 quy định về xử lý các khoản cam kết chi từ dự toán ứng trước, theo đó: “Số dư chưa thanh toán của các khoản cam kết chi đến 31/12 đã được tự động chuyển sang năm sau để thanh toán và hạch toán niên độ ngân sách năm sau”.

Nhằm thống nhất với quy định về thời hạn thanh toán đối với vốn ứng trước quy định tại Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính (nay là Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng vốn NSNN), theo đó thời hạn thanh toán vốn ứng trước được thực hiện như thời hạn thanh toán vốn đầu tư trong kế hoạch hàng năm (hết ngày 31/01 năm sau), trường hợp đặc biệt khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Thông tư 40 đã quy định: “Các khoản cam kết chi từ dự toán ứng trước được thanh toán đến hết ngày 31 tháng 01 năm sau và hạch toán vào niên độ ngân sách năm trước (trừ trường hợp đặc biệt khác được cấp có thẩm quyền cho phép).”,  trước đây quy định: “Số dư chưa thanh toán của các khoản cam kết chi đến 31/12 được tự động chuyển sang năm sau để thanh toán và hạch toán vào niên độ ngân sách năm sau”.

Sửa mẫu Giấy đề nghị cam kết chi ngân sách nhà nước và Giấy đề nghị chỉnh sửa cam kết chi

Hiện nay, các mẫu Giấy đề nghị  cam kết chi (Mẫu C2-12/NS) và Phiếu điều chỉnh số liệu cam kết chi NSNN (Mẫu C2-13/NS) được thực hiện theo quy định tại Thông tư 08. Sau hơn hai năm thực hiện, các mẫu chứng từ này cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của việc quản lý, kiểm soát cam kết chi; tuy nhiên trong quá trình thực hiện, các mẫu này vẫn còn một số hạn chế như: Thiếu thông tin về dự án đầu tư, thông tin về hợp đồng, thông tin về nhà cung cấp, mã tài khoản của đơn vị đề nghị cam kết chi. Do không thể hiện thông tin về nhà cung cấp, nên trong trường hợp kế toán viên nhập sai thông tin nhà cung cấp, muốn điều chỉnh lại, cán bộ KBNN phải tìm lấy lại thông tin nhà cung cấp từ các cam kết chi trước đây; điều này chưa đảm bảo thuận tiện và làm chậm quá trình kiểm soát cam kết chi của cán bộ KBNN. Bên cạnh đó, Phiếu điều chỉnh số liệu cam kết chi NSNN (Mẩu C2-13/NS) chưa thể hiện được số tiền cam kết chi khi điều chỉnh tăng hoặc giảm và số tiền cam kết chi còn lại sau khi điều chỉnh, nên khi nhập số liệu điều chỉnh cam kết chi (tăng hoặc giảm) cán bộ kiểm soát chi và cán bộ kế toán phải đối chiếu số liệu với giấy đề nghị cam kết chi trước đó, nên khó khăn trong việc quản lý và theo dõi của chủ đầu tư cũng như KBNN.

Để khắc phục hạn chế nói trên, Thông tư 40 đã ban hành kèm theo Mẫu C2-12/NS – Giấy đề nghị cam kết chi NSNN thay thế cho Mẫu số 01 – Giấy đề nghị cam kết chi ngân sách kèm theo Thông tư 113 và Mẫu C2-12/NS – Giấy đề nghị cam kết chi kèm theo Thông tư 08 và Mẫu C2-13/NS – Phiếu điều chỉnh số liệu cam kết chi thay thế cho Mẫu số 02 – Giấy đề nghị chỉnh sửa cam kết chi kèm theo Thông tư 113 và Mẫu C2-13/NS – Phiếu điều chỉnh số liệu cam kết chi NSNN kèm theo Thông tư 08.

Hy vọng những nội dung sửa đổi về việc quản lý kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN tại Thông tư 40, hy vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các đơn vị dự toán, chủ đầu tư, ban quản lý dự án và cán bộ KBNN trong tổ chức, thực hiện kiểm soát cam kết chi. Làm tốt công tác quản lý, kiểm soát chi NSNN sẽ là cơ sở để tiến tới thực hiện quản lý NSNN trung hạn theo quy định tại Luật Đầu tư công năm 2014 và Luật NSNN năm 2015, góp phần thực hiện tốt hơn công tác quản lý, điều hành NSNN và tiến trình cải cách hành chính công theo hướng hiện đại.

Trong những năm tới, nguồn thu NSNN vẫn có những rủi ro lớn dẫn tới nguy cơ làm giảm quy mô tương đối so với GDP. Những rủi ro này đến từ việc giảm nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu, sự sụt giảm nguồn thu từ dầu khí, đất đai. Vì vậy, chính sách tài khóa đứng trước những áp lực lớn phải cải cách để duy trì quy mô thu NSNN ở mức hợp lý.

Đã đến lúc Việt Nam cần có sự đổi mới mạnh mẽ, toàn diện nhằm hướng tới việc xây dựng một hệ thống thu ngân sách bền vững, hiệu quả. Dù hiện nay quy mô nợ công của Việt Nam vẫn được coi là trong ngưỡng an toàn, song với việc duy trì thâm hụt ngân sách nhiều năm ở mức xấp xỉ 5% GDP trong khi hiệu quả chi tiêu công chưa được cải thiện thì nguy cơ mất ổn định tài khóa không chỉ là cảnh báo. Về nguyên tắc, mọi kế hoạch chi tiêu công phải được xây dựng trên cơ sở về nguồn lực từ thu ngân sách. Do vậy, ngay cả khi Luật Đầu tư công và Luật NSNN đã được thông qua với nhiều kỳ vọng tích cực song nếu không có những cải cách mạnh mẽ trong chính sách thu NSNN thì Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn lớn trong tương lai./.

BÀI VIẾT ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ QUỐC GIA CHUYÊN MỤC NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

(Số 166 (tháng 4/2016)).