breaking news

  • Hotline: 0763.953.475 - Email: minhtc@vst.gov.vn

Trao đổi nghiệp vụ

Hợp đồng xây dựng được quy định trong Luật Xây dựng để đáp ứng yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn. Trong đó, hợp đồng liên danh và thanh toán cho các nhà thầu phụ là điểm mới được quy định tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng (Nghị định 37) có liên quan đến công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của hệ thống KBNN cần được thống nhất để thực hiện.                                                                   

                                                                          Tác giả: Lê Quang Tân


Hợp đồng xây dựng được ký kết phù hợp với pháp luật về đầu tư xây dựng công trình là căn cứ cao nhất để các bên thanh toán, quyết toán hợp đồng. Chính vì vậy để thực hiện Luật Xây dựng 50 và đáp ứng yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị định 37 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2015. Về nội dung, Nghị định này có nhiều điểm mới so với các quy định trước đây tại Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/05/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng (Nghị định 48) như: Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, vấn đề bảo đảm thanh toán hợp đồng, vấn đề bảo lãnh tạm ứng hợp đồng, vấn đề giá hợp đồng …
uật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được Quốc Hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 (Luật Xây dựng 50). Nguyên tắc cơ bản và cũng là nội dung cốt lõi của Luật này là đổi mới phương thức và nội dung quản lý dự án, nhất là các dự án sử dụng vốn nhà nước, khắc phục thất thoát và lãng phí, nâng cao chất lượng các công trình xây dựng. Một trong những vấn đề đổi mới cốt lõi so với Luật Xây dựng năm 2003 đó là: Đổi mới cơ chế quản lý chi phí nhằm quản lý chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng từ nguồn vốn nhà nước, bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thông qua hợp đồng xây dựng.

Đối với hợp đồng liên danh

Theo Khoản 6, Điều 4 của Nghị định 48. “Trường hợp bên nhận thầu là liên danh các nhà thầu thì các thành viên trong liên danh phải có thoả thuận liên danh, trong hợp đồng phải có chữ ký của tất cả các thành viên tham gia liên danh”. Với quy định này, để đảm bảo tính pháp lý của hợp đồng xây dựng khi bên nhận thầu là liên danh, các hợp đồng xây dựng gửi đến KBNN phải có đầy đủ chữ ký và dấu (nếu có) của các bên trong liên danh mới được chấp nhận để làm căn cứ kiểm soát thanh toán.

Về nội dung này, tại Điểm d, Khoản 2, Điều 138 của Luật Xây dựng 50: “Trường hợp bên nhận thầu là liên danh nhà thầu thì phải có thoả thuận liên danh. Các thành viên trong liên danh phải ký tên, đóng dấu (nếu có) vào hợp đồng xây dựng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác” và tại Điều 4 của Nghị định 37 quy định về nguyên tắc ký hợp đồng xây dựng đã nêu rõ: “Về nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng phải phù hợp với quy định tại Khoản 2, Điều 138 của Luật Xây dựng 50”. Như vậy có thể hiểu theo quy định mới thì khi các bên có thoả thuận khác sẽ không bắt buộc tất cả các thành viên trong liên danh phải ký tên, đóng dấu (nếu có) vào hợp đồng xây dựng.

Các câu hỏi cần làm rõ ở đây là: Nội dung của thoả thuận khác là gì? Được thể hiện trong thoả thuận liên danh hay ở một loại hồ sơ, tài liệu khác? Vấn đề sát sườn trong công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB của hệ thống KBNN đặt ra là: Trường hợp nào KBNN chấp nhận hợp đồng xây dựng do chủ đầu tư gửi đến, có bên nhận thầu là liên danh nhưng chỉ có chữ ký và dấu (nếu có) của thành viên đứng đầu liên danh mà không có đầy đủ chữ ký và dấu (nếu có) của tất cả các thành viên trong liên danh được nêu trong văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu? Và nếu chấp nhận thì KBNN có yêu cầu chủ đầu tư gửi thêm tài liệu nào không?

Vấn đề thanh toán cho nhà thầu phụ

Tại Khoản 3, Điều 46 của Nghị định 48 quy định: “Chủ đầu tư có thể thanh toán trực tiếp cho nhà thầu phụ trên cơ sở đề xuất thanh toán của nhà thầu chính hoặc tổng thầu, trường hợp này các bên phải thỏa thuận trên hợp đồng thầu chính”. Để thực hiện triệt để quy định này, trong thời gian qua khi thanh toán cho nhà thầu phụ, KBNN căn cứ vào nội dung về thanh toán cho nhà thầu phụ được quy định trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu chính (hoặc tổng thầu) để chuyển tiền cho nhà thầu phụ.

Cùng nội dung thanh toán cho nhà thầu phụ được quy định tại Khoản 3, Điều 47 của Nghị định 37 thì: “Chủ đầu tư thanh toán trực tiếp cho nhà thầu phụ trên cơ sở đề xuất thanh toán của nhà thầu chính hoặc tổng thầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Như vậy so với Nghị định 48, quy định về thanh toán cho nhà thầu phụ ở Nghị định 37 đã không còn cụm từ “trường hợp này các bên phải có thỏa thuận trong hợp đồng thầu chính” nhưng lại thêm cụm từ “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

Quy định này phải chăng đã xem vấn đề thanh toán cho nhà thầu phụ là việc của chủ đầu tư và nhà thầu chính mà mặc nhiên không cần ràng buộc nội dung này trong hợp đồng xây dựng giữa hai bên? Vậy nguyên tắc KBNN căn cứ  vào hồ sơ thanh toán và thực hiện thanh toán theo hợp đồng trong trường hợp thanh toán cho nhà thầu phụ có còn phù hợp? Và KBNN có cần quan tâm đến thỏa thuận khác giữa các bên khi chuyển tiền cho nhà thầu phụ hay chỉ căn cứ vào giá trị khối lượng hoàn thành và đề nghị của chủ đầu tư trên Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư, Giấy rút vốn đầu tư?

Nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB là một trong những nhiệm vụ quan trọng và phức tạp của hệ thống KBNN. Chính vì vậy, để kiểm soát chặt chẽ các khoản chi đồng thời đảm bảo minh bạch về hồ sơ, chứng từ, nội dung kiểm soát, tiến tới thực hiện quy trình kiểm soát chi điện tử đòi hỏi sự rõ ràng, rành mạch trong cơ chế, chính sách, nhất là trong giai đoạn giao thời giữa các cũ và cái mới như hiện nay. Qua bài viết này, với một số vấn đề cần trao đổi để thống nhất, chúng tôi mong muốn KBNN phối hợp với các cơ quan liên quan làm rõ hơn các vấn đề được đặt ra, nhằm có được sự nhất quán, đồng bộ trong quá trình triển khai thực hiện./.

BÀI VIẾT ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ QUỐC GIA CHUYÊN MỤC THỰC TIỂN Ý KIẾN TỪ CƠ SỞ

Số 166 (tháng 4/2016).